Chính sách đối ngoại của Trung Quốc – Qua các chuyến thăm nước ngoài

0
193
Chính sách đối ngoại Trung Quốc
Chính sách đối ngoại Trung Quốc

Các chuyến thăm nước ngoài của các quan chức hàng đầu là một thành phần quan trọng của ngoại giao và quyền lực mềm. Các chuyến thăm cấp cao này là cơ hội để các quan chức cố gắng định hình các mối quan hệ song phương và đa phương có lợi cho đất nước của họ.

Dưới thời Chủ tịch Tập Cận Bình, Trung Quốc đã theo đuổi một chương trình nghị sự chính sách đối ngoại tích cực và quyết đoán hơn, định hình lại cách thức mà các nhà ngoại giao Trung Quốc ở tất cả các cấp tham gia với thế giới.

Khám phá thêm: Mối quan hệ giữa Nga và Trung Quốc phát triển như thế nào?

Dấu chân ngoại giao đang thay đổi của Trung Quốc

Cách thức mà các nhà lãnh đạo Trung Quốc tham gia ngoại giao với các nước trên thế giới đã thay đổi đáng kể theo thời gian. Khi Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) thành lập Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (CHND Trung Hoa) vào năm 1949, nhiều nước ban đầu không chấp nhận chính phủ CHND Trung Hoa là nhà cai trị hợp pháp của Trung Quốc.

Nhiều quốc gia chỉ bắt đầu thiết lập quan hệ chính thức với Bắc Kinh vào đầu những năm 1970 sau khi Mỹ-Trung có quan hệ hợp tác và chính phủ CHND Trung Hoa được gia nhập Liên hợp quốc.

Các quốc gia có quan hệ ngoại giao chính thức với Trung Quốc
Các quốc gia có quan hệ ngoại giao chính thức với Trung Quốc

Trung Quốc đã áp dụng các chiến lược ngoại giao khác nhau để định hướng các hành động của mình. Giữa các lệnh trừng phạt kinh tế và chính trị của phương Tây sau sự kiện Thảm sát Thiên An Môn, Trung Quốc đã áp dụng cách tiếp cận “ngoại giao láng giềng tốt” (mulin Waijiao) và tập trung vào việc cải thiện quan hệ với các nước Đông Nam Á, Nhật Bản và Hàn Quốc.

Khoảng giữa những năm 1990, cách tiếp cận của Trung Quốc chuyển sang “ngoại giao cường quốc” (daguo Waijiao), được minh chứng bằng chuyến đi đến Seattle năm 1993 của Chủ tịch Giang Trạch Dân.

Cả chính quyền Hồ Cẩm ĐàoTập Cận Bình đều áp dụng “chính sách ngoại giao nhiều mặt” (quanfangwei Waijiao), đặc trưng bởi khẩu hiệu “các cường quốc là then chốt, ngoại vi là trên hết, các nước đang phát triển là nền tảng và chủ nghĩa đa phương là nền tảng quan trọng”. Đây là một bước đi chiến lược từ việc ông Giang nhấn mạnh vào các cường quốc và quay trở lại việc ưu tiên các nước láng giềng của Trung Quốc.

Tìm hiểu thêm: Ảnh hưởng của Trung Quốc đối với Tổ chức thương mại thế giới WTO.

Tập Cận Bình đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc can dự với các nước láng giềng. Năm 2013, Trung Quốc lần đầu tiên tổ chức diễn đàn làm việc về “ngoại giao ngoại vi” (hay “ngoại giao láng giềng”), trong đó ông Tập tuyên bố: “Cần nỗ lực cải thiện quan hệ chính trị, tăng cường quan hệ kinh tế, tăng cường hợp tác an ninh và thúc đẩy chặt chẽ hơn quan hệ nhân đạo với các khu vực lân cận.”

Cùng năm đó, Tập Cận Bình đưa ra chính sách đối ngoại đặc trưng của mình được gọi là Sáng kiến ​​Vành đai và Con đường (BRI). Bao gồm nhiều dự án cơ sở hạ tầng, các giao dịch thương mại và tài chính, và giao lưu nhân dân, BRI nhằm mục đích tăng cường đáng kể kết nối giữa Trung Quốc và các quốc gia khác.

Nhiều dự án BRI có mức độ ưu tiên cao nhất đã được dành cho các nước láng giềng ở ngoại vi Trung Quốc, bao gồm Pakistan và một số nước Đông Nam Á.

Trung Quốc không đơn độc trong việc ưu tiên châu Á trong các chính sách đối ngoại của mình. Năm 2011, chính quyền Obama tuyên bố rằng Mỹ sẽ “xoay trục” (hay “tái cân bằng”) sang châu Á. Dưới thời chính quyền Trump, Mỹ đã khởi xướng “Chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở” chủ yếu nhằm chống lại ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực.

Tương tự, vào năm 2013, Nga đã tuyên bố rằng nước này sẽ “Xoay quanh phương Đông” để thiết lập “Quan hệ Đối tác Á-Âu Vĩ đại hơn”. Ấn Độ đưa ra chính sách “Hướng Đông” vào năm 1991 nhằm tăng cường hợp tác kinh tế và an ninh với Đông Nam Á, và vào năm 2003, chính sách này đã được mở rộng bao gồm Australia và Đông Á.

Các nước khác trong khu vực như Hàn Quốc và Đài Loan cũng đã đưa ra “Chính sách hướng nam mới” nhằm tăng cường quan hệ với Đông Nam Á, Ấn Độ và các nước khác trong khu vực.

Tìm hiểu thêm: An ninh nguồn nước Trung Quốc.

Ngoại giao ở cấp độ cao nhất

Trong khi các quốc gia tham gia với nhau ở nhiều cấp độ khác nhau, các quyết định chính sách đối ngoại quan trọng nhất thường được đưa ra ở các cấp chính trị cao nhất. Các chuyến thăm nước ngoài của các quan chức hàng đầu cung cấp những hiểu biết độc đáo về các ưu tiên chính sách đối ngoại và việc tiến hành ngoại giao.

Các quan chức cụ thể tham gia vào hoạt động ngoại giao cấp cao có thể thay đổi theo từng quốc gia tùy thuộc vào hệ thống chính quyền. Ở Hoa Kỳ, tổng thống vừa là nguyên thủ quốc gia vừa là người đứng đầu chính phủ. Cùng với Ngoại trưởng, họ là các quan chức chính tham gia các chuyến thăm ngoại giao cấp cao.

Ở nhiều quốc gia, chẳng hạn như Vương quốc Anh, Nga, Ấn Độ và Nhật Bản, nguyên thủ quốc gia và người đứng đầu chính phủ là hai quan chức riêng biệt với trách nhiệm và quyền hạn khác nhau. Họ cùng với một bộ trưởng ngoại giao (hoặc tương đương) thường là các quan chức chính tham gia các chuyến thăm cấp cao.

Ở Trung Quốc, 4 quan chức chính có liên quan đến ngoại giao cấp cao:

  • Tập Cận Bình, Tổng Bí thư ĐCSTQ, Chủ tịch nước CHND Trung Hoa, Chủ tịch Quân ủy Trung ương
  • Lý Khắc Cường, Thủ tướng Quốc vụ viện
  • Dương Khiết Trì, Giám đốc Văn phòng Ủy ban Đối ngoại Trung ương ĐCSTQ
  • Vương Nghị, Ủy viên Quốc vụ kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao

Cơ cấu ở Trung Quốc có sự khác biệt đáng kể do vai trò thống trị của ĐCSTQ. Không giống như hầu hết những người đồng cấp nước ngoài của mình, Bộ trưởng Ngoại giao Vương Nghị không phải là nhà ngoại giao cấp cao nhất của Trung Quốc. Thay vào đó, sự khác biệt đó thuộc về Dương Khiết Trì vì ông ta xếp cao hơn Vương trong hệ thống phân cấp của ĐCSTQ.

Trung Quốc không cung cấp một cách dễ dàng để theo dõi một cách có hệ thống các chuyến công du của các quan chức chủ chốt, nhưng Bộ Ngoại giao Trung Quốc (MFA) đưa ra các tuyên bố báo chí với chi tiết về hành trình ngoại giao của các quan chức hàng đầu. Theo MFA, 4 quan chức Trung Quốc nói trên đã thực hiện 426 chuyến thăm tới 144 quốc gia từ năm 2014 đến năm 2020.

MFA cũng cung cấp thông tin về các chuyến công du của các quan chức khác, tổng cộng có 266 chuyến thăm tới 107 quốc gia từ năm 2014 đến năm 2020. Phó Thủ tướng Liu He đã có nhiều chuyến đi đến Washington, DC để đàm phán một thỏa thuận thương mại Mỹ-Trung, để tham dự các buổi lễ nhậm chức tổng thống nước ngoài của các quan chức cấp thấp hơn.

Ngoài các chuyến thăm thực tế, MFA thông báo các quan chức tham dự các cuộc họp quan trọng diễn ra thông qua hội nghị truyền hình do đại dịch Covid-19. Vào năm 2020, 4 quan chức chính của Trung Quốc hầu như đã tham gia ít nhất 5 cuộc họp song phương và 28 cuộc họp đa phương. Mặc dù đáng chú ý, những cuộc họp ảo này không được đưa vào phân tích trên trang này.

Tìm hiểu thêm: Trung Quốc ảnh hưởng đến hàng hải thế giới như thế nào?

Chủ tịch Tập Cận Bình

Với tư cách là nhà lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc, các chuyến công du nước ngoài của Tập Cận Bình có ý nghĩa quan trọng nhất. Từ năm 2013 – khi trở thành Chủ tịch Trung Quốc – và năm 2020, Tập Cận Bình đã thực hiện 98 chuyến thăm trực tiếp tới 69 quốc gia nước ngoài.

Con số này có thể so sánh với tổng số chuyến thăm của Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama và Donald Trump trong suốt thời kỳ này (103), nhưng thấp hơn đáng kể so với số chuyến thăm của Tổng thống Nga Vladimir Putin (144) hoặc các Thủ tướng Anh (222). Tuy nhiên, đáng chú ý là ông Tập đã đến nhiều nước hơn những nhà lãnh đạo khác.

Từ năm 2013 đến năm 2020, ông Tập đã thực hiện 27 chuyến đi (khoảng 32,1% tổng số) đến chỉ 20 quốc gia ngoại vi – những quốc gia có chung biên giới trên bộ hoặc trên biển với Trung Quốc. Quốc gia thường xuyên đến thăm nhất của ông Tập là Nga, một trong những đối tác ngoại giao thân thiết nhất của Trung Quốc.

Ông cũng đã từng 3 lần đến thăm ba quốc gia: Ấn Độ, Indonesia và Kazakhstan. Tổng cộng, gần 40% các chuyến thăm của ông Tập là đến các nước châu Á. Điều này không có gì đáng ngạc nhiên khi Bắc Kinh nhấn mạnh đến các nước ngoại vi và rộng hơn là châu Á; tuy nhiên, ông Tập ít thăm các nước châu Á hơn Tổng thống Nga Vladimir Putin. Từ năm 2013-2020, Putin đã thực hiện 79 chuyến công du đến các nước châu Á, chiếm khoảng 54,9% tổng số chuyến công du của ông.

Tuy nhiên, ông Tập ưu tiên các nước châu Á hơn những người đồng cấp ở Mỹ và Anh, những người thường xuyên đến châu Âu. Tổng thống Hoa Kỳ Obama và Trump đã thực hiện 43,7% các chuyến đi của họ đến châu Âu, nơi họ thường đến Đức (12 chuyến thăm), Anh (6), Bỉ (6) và Pháp (4).

Các Thủ tướng Vương quốc Anh đã thực hiện tỷ lệ áp đảo 73,4% trong các chuyến thăm của họ tới các nước châu Âu khác, bao gồm 60 chuyến thăm đến Bỉ (nơi đặt trụ sở chính của Liên minh châu Âu), 22 điểm dừng ở Pháp và 18 chuyến đến Đức.

Các quốc gia được ghé thăm nhiều nhất trong số các nhà lãnh đạo hàng đầu được lựa chọn (2013-2020)

CấpChủ tịch Trung QuốcTổng thống NgaThủ tướng AnhTổng thống Mỹ
Lần 1NgaKazakhstanBỉĐức
Lần 2Hoa KỳBelarusPhápNhật Bản
Lần 3Pháp, Ấn Độ, Indonesia, Kazakhstan, Nam PhiThổ Nhĩ KỳĐứcVương quốc Anh
Lần 4Trung QuốcHoa KỳBỉ, Pháp, Ả Rập Xê Út
Lần 5PhápBa Lan

Bên cạnh việc tập trung vào các nước ngoại vi, ông Tập cũng nhấn mạnh các mối quan hệ “cường quốc”. Điểm đến thứ hai của ông Tập là Hoa Kỳ, nơi ông đã đến thăm tổng cộng 4 lần. Trong chuyến công du đầu tiên tới Mỹ vào năm 2013, ông Tập đã đưa ra khái niệm về “Mối quan hệ kiểu mới của cường quốc”, nhằm tìm cách nâng Trung Quốc lên vị thế “cường quốc” cùng với Mỹ. Tổng thống Obama phần lớn phớt lờ khuôn khổ này, một dấu hiệu cho thấy căng thẳng gia tăng giữa Washington và Bắc Kinh.

So sánh: Các thành phố Trung Quốc và GDP các quốc gia.

Các chuyến thăm nước ngoài của Tập Cận Bình (2013-2020)

Quốc giaSố lượt thăm
Nga8
Hoa Kỳ4
Pháp, Ấn Độ, Indonesia, Kazakhstan, Nam Phi3
Argentina, Brazil, Đức, Kyrgyzstan, Philippines, Tây Ban Nha, Tajikistan, Uzbekistan, Việt Nam2
53 quốc gia khác1
Nguồn: Bộ ngoại giao Trung Quốc

Thủ tướng Lý Khắc Cường

Với tư cách là Thủ tướng, Lý Khắc Cường tập trung nhiều vào các vấn đề trong nước, nhưng ông thường xuyên đại diện cho Trung Quốc ở nước ngoài. Từ năm 2014 đến 2019, Lý Khắc Cường đã thực hiện tổng cộng 55 chuyến thăm tới 45 quốc gia. Ông đã không thực hiện bất kỳ chuyến đi trực tiếp nào trong năm 2020.

So với các quan chức hàng đầu khác, ông Lý có ít chuyến đi ngoại giao nhất và hầu hết đều là để tham dự các sự kiện đa phương. Trong số các chuyến đi mà ông đã thực hiện từ năm 2014 đến năm 2020, 91,7% bao gồm tham dự ít nhất một cuộc họp đa phương – cao hơn nhiều so với tỷ lệ của Tập Cận Bình (65,6%), Vương Nghị (47,6%) và Dương Khiết Trì (20,8%).

Trong chuyến đi của mình, ông Lý đã tìm cách quảng bá ngành công nghiệp Trung Quốc trên trường thế giới. Một ví dụ đáng chú ý là nỗ lực của ông nhằm thúc đẩy xuất khẩu công nghệ đường sắt cao tốc của Trung Quốc ra nước ngoài, vốn được mệnh danh là “ngoại giao đường sắt tốc độ cao”.

Ông Lý cũng đã nỗ lực thúc đẩy xuất khẩu năng lượng điện, thông tin liên lạc, máy móc kỹ thuật, ô tô, máy bay, thiết bị điện tử và các thiết bị khác của Trung Quốc – đặc biệt là ở các nước đối tác BRI.

Các chuyến thăm nước ngoài của Lý Khắc Cường (2014-2020)

Quốc giaSố lượt thăm
Bỉ, Đức, Nga4
Thái Lan3
Kazakhstan, Thụy Sĩ, Uzbekistan2
43 quốc gia khác1
Nguồn: Bộ ngoại giao Trung Quốc

Hai nhà ngoại giao Trung Quốc: Dương Khiết Trì và Vương Nghị

Là Giám đốc Văn phòng Ủy ban Đối ngoại Trung ương ĐCSTQ, Dương Khiết Trì là nhà ngoại giao cấp cao nhất của Trung Quốc và là kiến ​​trúc sư chính trong chương trình nghị sự chính sách đối ngoại của ông Tập. Với tư cách là Bộ trưởng Ngoại giao, Vương Nghị điều hành MFA và tham dự nhiều cuộc họp song phương và đa phương với những người đồng cấp nước ngoài.

Từ năm 2014 đến năm 2020, Dương Khiết Trì đã có ít nhất 80 chuyến thăm tới 44 quốc gia, trong khi Vương Nghị đã có ít nhất 207 chuyến thăm tới 113 quốc gia. Cả ông Trì và ông Nghị cũng tháp tùng Tập Cận Bình trong phần lớn các chuyến thăm của ông ở nước ngoài. Những thứ này không được bao gồm trong tổng số riêng biệt của chúng, nhưng nếu được tính, chúng có thể sẽ thêm hơn 90 lượt thăm vào tổng số tương ứng.

Các chuyến công du nước ngoài của hai nhà ngoại giao này bổ sung cho các chuyến công du của Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường.

Khám phá thêm: Các dự án đường sắt Trung Quốc ở nước ngoài và ảnh hưởng.

Ví dụ, chỉ 12% các chuyến thăm của Tập và 7% các chuyến thăm của Lý là đến châu Phi từ năm 2014 đến năm 2020. Trong khi đó, hơn 26% các chuyến thăm của ông Trì và 23% các chuyến thăm của ông Nghị là đến các nước châu Phi. Ngoài ra, đôi khi cả hai làm việc song song với nhau.

Ví dụ, vào tháng 3 năm 2021, cặp đôi đã đến Anchorage, Alaska để gặp Ngoại trưởng Antony Blinken và Cố vấn An ninh Quốc gia Jake Sullivan. Cuộc gặp là cuộc gặp đầu tiên giữa các quan chức cấp cao của Mỹ và Trung Quốc kể từ khi Tổng thống Joe Biden nhậm chức.

Chuyến thăm nước ngoài của Dương Khiết Trì và Vương Nghị (2014-2020)

Quốc giaSố lượt thăm của Dương Khiết TrìSố lượt thăm của Vương NghịToàn bộ
Nga5914
Hoa Kỳ7714
Đức4610
Nhật Bản448
Ấn Độ448
Khác56177233
Nguồn: Bộ ngoại giao Trung Quốc

Tuy nhiên, ngay cả khi tính tổng toàn bộ, cặp đôi này vẫn có ít chuyến thăm nước ngoài đáng kể hơn so với các Ngoại trưởng Hoa Kỳ. Từ năm 2013 đến năm 2019, nhà ngoại giao hàng đầu của Hoa Kỳ đã thực hiện tổng cộng 501 chuyến thăm tới 106 quốc gia.

Để so sánh, Dương Khiết Trì và Vương Nghị đã thực hiện tổng cộng 254 lượt thăm trong cùng thời gian. Tính các chuyến công du của họ cùng với Tập Cận Bình vẫn không thể đưa tổng số của họ gần bằng các Ngoại trưởng Hoa Kỳ.

Tìm hiểu thêm: Xuất khẩu Việt Nam sang Trung Quốc.

Sự quyết đoán ngoại giao ngày càng tăng của Trung Quốc

Mặc dù rất quan trọng đối với ngoại giao, nhưng các chuyến thăm cấp cao chỉ nói lên một phần của câu chuyện. Các nhà ngoại giao Trung Quốc ở tất cả các cấp đang ngày càng tham gia vào một nỗ lực rộng lớn hơn để thúc đẩy quyền lực mềm của Trung Quốc và thúc đẩy lợi ích của Bắc Kinh trên trường thế giới.

Nâng cao hình ảnh của Trung Quốc là một phần quan trọng trong nỗ lực của Tập Cận Bình nhằm củng cố vị trí toàn cầu của Trung Quốc. Trong một hội nghị công tác đối ngoại lớn vào năm 2014, ông Tập đã kêu gọi các quan chức “nâng cao sức mạnh mềm của Trung Quốc, kể tốt câu chuyện của Trung Quốc và làm tốt công tác tuyên truyền đối ngoại”.

Ông Tập cũng kêu gọi các quan chức thúc đẩy mạnh mẽ các lợi ích của Trung Quốc ở nước ngoài. Vào tháng 9 năm 2019, giữa những thách thức gia tăng trong và ngoài nước, ông Tập đã kêu gọi các quan chức có “tinh thần chiến đấu”. Bộ trưởng Ngoại giao Vương Nghị nhắc lại lời kêu gọi này với các nhà ngoại giao vào tháng 12 cùng năm.

Các nhà ngoại giao Trung Quốc ngày càng sử dụng mạng xã hội nhiều hơn để khẳng định lập trường của Trung Quốc trong các vấn đề chính trị và chỉ trích các nước khác như Mỹ và Australia. Người phát ngôn của MFA Hua Chunying và Zhao Lijian đã trở nên đặc biệt tích cực trên Twitter, thu về hàng chục nghìn lượt thích trên các bài đăng khiêu khích của họ mỗi tuần.

Nhiều người đã gán cho sự quyết đoán ngày càng tăng này là “ngoại giao chiến binh sói” khi liên quan đến bộ phim hành động yêu nước năm 2017 miêu tả một người lính Trung Quốc đã giải cứu các công dân Trung Quốc và các nước khác khỏi những nguy hiểm ở châu Phi.

Bất chấp những nỗ lực thúc đẩy quyền lực mềm và lợi ích chính sách đối ngoại của Trung Quốc ở nước ngoài, quan điểm toàn cầu về Trung Quốc đã xấu đi ở nhiều khu vực trên thế giới. Các cuộc khảo sát của Pew cho thấy quan điểm bất lợi về Trung Quốc đã đạt mức cao lịch sử ở nhiều nền kinh tế tiên tiến vào năm 2020, bao gồm Nhật Bản (86% bất lợi) và Hàn Quốc (75% bất lợi).

Các cuộc khảo sát về cư dân Đông Nam Á cũng cho thấy sự ngờ vực ngày càng tăng đối với Trung Quốc. Vào năm 2021, chỉ 16,5% – giảm so với 19,6% năm 2019 – trong số những người được hỏi trên 10 nước ASEAN nói rằng họ tin tưởng hoặc rất tin tưởng vào việc Trung Quốc “làm điều đúng đắn” để đóng góp cho hòa bình và an ninh toàn cầu.

Nhận thức về sự tin cậy vào các cường quốc chính giữa các nước ASEAN

Quốc gia / Nhóm% Tin cậy hoặc Rất tin cậy (2019)% Tin cậy hoặc Rất tin cậy (2021)Thay đổi 2019-2021
Nhật Bản65,967.1+1,2
Liên minh Châu Âu41.351.0+9,7
Hoa Kỳ27.348.3+21.0
Ấn Độ21,719.8-1,9
Trung Quốc19,616,5-3,1
Nguồn: Tình hình Đông Nam Á: Báo cáo khảo sát năm 2021

Theo Afrobarometer, những người trả lời khảo sát ở một số nước châu Phi cũng ngày càng cảnh giác với ảnh hưởng của Trung Quốc. Vào năm 2014, cuộc khảo sát của họ cho thấy 65% ​​người được hỏi ở 16 quốc gia châu Phi có quan điểm “hơi tích cực” hoặc “rất tích cực” về ảnh hưởng của Trung Quốc ở nước họ. Vào năm 2020, con số đó là 60%, giảm 5 điểm phần trăm.

Trong khi các cuộc khảo sát này chỉ cung cấp những bức ảnh nhanh, chúng cho thấy rằng các nỗ lực ngoại giao của Trung Quốc có thể không thúc đẩy quyền lực mềm của Trung Quốc một cách hiệu quả. Sự quyết đoán trong ngoại giao ngày càng tăng thậm chí có thể góp phần làm xấu đi quan điểm ở một số nơi trên thế giới.

Vẫn còn phải xem liệu các nhà ngoại giao Trung Quốc sẽ điều chỉnh cách tiếp cận của họ hay liệu họ sẽ tăng cường gấp đôi các biện pháp phòng thủ sắc bén của họ đối với Trung Quốc trong tương lai.

Tìm hiểu thêm: Giải mã sức mạnh Trung Quốc.