Mất và tăng trưởng rừng toàn cầu trong 30 năm

0
571
Mất và tăng trưởng rừng trong 30 năm qua
Mất và tăng trưởng rừng trong 30 năm qua

Rừng là nguồn thu nhận carbon tuyệt vời của hành tinh chúng ta, và chúng là nguồn cung cấp môi trường sống chính cho động vật hoang dã và là nguồn tài nguyên quan trọng cho mọi người trên thế giới.

Nhưng nạn phá rừng đang đe dọa cơ sở hạ tầng tự nhiên này, giải phóng carbon vào khí quyển đồng thời làm giảm sự đa dạng của động vật hoang dã và làm cho môi trường của chúng ta dễ bị ảnh hưởng bởi các thảm họa môi trường.

Hình ảnh này xem xét tình trạng mất rừng và tăng trưởng rừng trên toàn cầu trong 30 năm qua, lập bản đồ về sự thay đổi rừng thực theo quốc gia và khu vực bằng cách sử dụng dữ liệu từ Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên hợp quốc (FAO).

Khám phá thêm: Cây nhiều tuổi nhất thế giới.

Tình trạng mất rừng theo khu vực

Ngày nay, rừng chiếm khoảng 31% tổng diện tích đất của Trái đất, trải dài 15,68 triệu dặm vuông (40,6 triệu km²). Trong ba thập kỷ qua, thế giới đã mất hơn 4% (685.300 dặm vuông) rừng, tương đương với diện tích bằng một nửa Ấn Độ.

Châu Âu và Châu Á là hai khu vực duy nhất có mức tăng trưởng rừng tổng thể đáng kể trong khoảng thời gian này, trong khi Châu Đại Dương không có sự thay đổi đáng kể còn Bắc và Trung Mỹ có mức giảm nhẹ.

VùngThay đổi diện tích rừng (1990-2020)Thay đổi diện tích rừng (%)
Châu Á+146.718 dặm vuông+ 6,64%
Châu Âu+88,803 dặm vuông+ 2,34%
Châu Đại Dương+1,057 dặm vuông+ 0,0015%
Bắc Mỹ và Trung Mỹ-7,722 dặm vuông-0,34%
Nam Mỹ và Caribe-501,932 dặm vuông-13,30%
Châu Phi-409.268 dặm vuông-14,29%
Tổng toàn cầu-685,401 dặm vuông-4,19%

Nguồn: Tổ chức Nông lương LHQ

Châu Phi cùng với Nam Mỹ và Caribe là những khu vực có lượng rừng bị mất thực lớn nhất, cả hai đều mất hơn 13% diện tích rừng trong vòng 30 năm qua. Điều này phần lớn là do hai vùng này có nhiều diện tích rừng, với đất nền là nhu cầu cao cho nông nghiệp và chăn nuôi gia súc.

Mặc dù tình trạng mất rừng nói chung trên toàn thế giới là rất lớn, nhưng tốc độ mất rừng đã chậm lại trong ba thập kỷ qua. Trong khi trung bình 30.116 dặm vuông bị mất mỗi năm từ 1990 đến 2000, từ 2010 đến 2020 con số đó đã giảm xuống còn 18.146 dặm vuông, cho thấy tỷ lệ tổn thất tổng thể đã giảm gần 40%.

Khám phá thêm: Cây cao nhất thế giới.

Các quốc gia và tác nhân gây mất rừng và tăng trưởng rừng

Mặc dù tỷ lệ mất rừng nói chung đang chậm lại, một số quốc gia ở Nam Mỹ cùng với toàn bộ châu Phi vẫn cho thấy tỷ lệ mất rừng đang gia tăng. Đó là ở những vùng này, nơi có hầu hết các quốc gia có diện tích rừng bị giảm nhiều nhất:

Quốc giaThay đổi thực về diện tích rừng (1990-2020)Phần trăm thay đổi diện tích rừng
Brazil-356.287 dặm vuông-15,67%
Indonesia-101,977 dặm vuông-22,28%
Cộng hòa Dân chủ Congo-94.495 dặm vuông-16,25%
Angola-48.865 dặm vuông-15,97%
Tanzania-44,962 dặm vuông-20,29%
Myanmar-41.213 dặm vuông-27,22%
Paraguay-36.463 dặm vuông-36,97%
Bolivia-26,915 dặm vuông-12,06%
Mozambique-25.614 dặm vuông-15,29%
Argentina-25,602 dặm vuông-18,84%

Nguồn: Tổ chức Nông lương LHQ

Brazil, nơi có phần lớn rừng nhiệt đới Amazon, đã chứng kiến ​​356.287 dặm vuông rừng bị mất trắng, phần lớn là do nông dân sử dụng đất để chăn nuôi bò lấy thịt. Người ta ước tính rằng 80% diện tích đất bị chặt phá của Amazon đã được thay thế bằng đồng cỏ, với kết quả là sản xuất thịt bò được coi là một trong những loại thịt tồi tệ nhất đối với môi trường về lượng khí thải carbon.

Động lực lớn khác của nạn phá rừng là sản xuất hạt và dầu cọ. Những loại dầu này chiếm khoảng 20% ​​lượng khí thải carbon do nạn phá rừng trên thế giới, và việc sản xuất chúng tập trung ở Indonesia và Malaysia hiện đang mở rộng sang các nước châu Á khác cùng với châu Phi.

Trong khi nhu cầu về thịt bò và dầu cọ thúc đẩy nạn phá rừng, các sáng kiến ​​như Sáng kiến ​​Rừng Trung Phi (CAFI) đang cung cấp các động lực để bảo vệ đất rừng.

Một số quốc gia trong Liên minh châu Âu cùng với Vương quốc Anh và Hàn Quốc đã cam kết 494,7 triệu đô la cho sáu quốc gia Trung Phi (Cameroon, Gabon, Cộng hòa Trung Phi, Cộng hòa Dân chủ Congo, Guinea Xích đạo và Cộng hòa Congo) để họ bảo tồn rừng của họ và theo đuổi các con đường phát thải thấp để phát triển bền vững. Cho đến nay, sáng kiến ​​này đã được chuyển giao 202 triệu đô la và dự kiến ​​giảm 75 triệu tấn khí thải CO2.

Rừng và Khủng hoảng Khí hậu

Người ta ước tính rằng rừng hấp thụ khoảng 30% lượng khí thải carbon của thế giới mỗi năm, khiến chúng trở thành những bể chứa carbon lớn nhất và quan trọng nhất mà chúng ta có trên đất liền. Khi bạn kết hợp điều này với thực tế rằng nạn phá rừng đóng góp khoảng 12% lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính hàng năm, tầm quan trọng của việc bảo tồn rừng càng trở nên rõ ràng hơn.

Nhưng chúng ta thường quên mất bao nhiêu rừng bảo vệ môi trường của chúng ta bằng cách đóng vai trò như những bộ đệm tự nhiên chống lại thời tiết khắc nghiệt. Rừng tăng cường và đảm bảo an ninh lượng mưa, làm cho các vùng đất lân cận ít bị ảnh hưởng bởi cháy rừng và hạn hán tự nhiên trong mùa khô nóng cùng với lũ lụt và sạt lở đất vào mùa mưa.

Với mỗi đô la đầu tư vào phục hồi cảnh quan mang lại lợi ích lên tới 30 đô la, giảm nạn phá rừng và đầu tư vào trồng lại rừng được coi là một cách hiệu quả để giảm khó khăn và chi phí trong việc đáp ứng các mục tiêu bảo vệ môi trường và khí hậu. Điều này thậm chí chưa tính đến lợi ích của việc duy trì môi trường sống và nguồn đa dạng loài của động vật hoang dã lớn nhất thế giới, ngôi nhà của gần 70 triệu người bản địa sống trong rừng và sinh kế của 1,6 tỷ người sống dựa vào rừng mỗi ngày.

Khám phá thêm về thiên nhiên: Thực vật ăn gì?

Bảo tồn và phục hồi rừng cho tương lai

Mặc dù tỷ lệ mất rừng tăng nhanh trong ngắn hạn được thấy vào năm 2020, nhưng đã có những dấu hiệu tích cực về sự phục hồi của rừng được đưa ra ánh sáng. Một nghiên cứu gần đây cho thấy đất bị chặt phá trước đây có thể phục hồi độ phì nhiêu của đất trong khoảng một thập kỷ, và các loài thực vật nhiều lớp, cây cối và sự đa dạng của loài có thể phục hồi trong khoảng 25-60 năm.

Cùng với điều này, trong một số trường hợp, những “rừng thứ sinh” mọc lại này có thể hấp thụ nhiều khí cacbonic hơn “rừng nguyên sinh”, mang lại hy vọng rằng nỗ lực trồng rừng toàn cầu có thể hấp thụ nhiều khí thải hơn những gì trước đây có thể nghĩ.

Từ các biện pháp khuyến khích tài chính tốt hơn cho nông dân và chủ trang trại địa phương để bảo tồn diện tích rừng đến các chính sách và sáng kiến ​​quy mô lớn hơn như CAFI, việc kiềm chế nạn phá rừng và thúc đẩy tái trồng rừng đòi hỏi một nỗ lực toàn cầu. Đảo ngược tình trạng mất rừng trong những thập kỷ tới là một bước đi khó khăn nhưng cần thiết để ổn định khí hậu và bảo tồn môi trường mà hàng tỷ loài động vật và con người đang dựa vào.

Nguồn dữ liệu: Visual Capitalist.