Các tín ngưỡng tôn giáo ở Thổ Nhĩ Kỳ

0
62
Tôn giáo ở Thổ Nhĩ Kỳ
Tôn giáo ở Thổ Nhĩ Kỳ

Thổ Nhĩ Kỳ là một quốc gia thế tục nhưng với đa số dân theo đạo Hồi. Không có số liệu thống kê chính thức về tín ngưỡng tôn giáo của dân số. Thẻ nhận dạng quốc gia tự động liệt kê bất kỳ công dân nào là ‘Hồi giáo’ khi mới sinh trừ khi cha mẹ của họ đã đăng ký họ theo một tôn giáo thiểu số được hiến pháp công nhận.

Theo hồ sơ này, 99,8% người Thổ Nhĩ Kỳ xác định là theo đạo Hồi. Tuy nhiên, con số này đánh giá thấp tỷ lệ người không theo tôn giáo hoặc theo một tôn giáo thiểu số.

Hiến pháp Thổ Nhĩ Kỳ chính thức công nhận Hồi giáo Sunni, Cơ đốc giáo (một số Công giáo và Chính thống giáo) và Do Thái giáo. Các biến thể không thuộc dòng Sunni của Hồi giáo và các giáo phái khác của Cơ đốc giáo không được công nhận. Những người thuộc các tôn giáo thiểu số nói chung được tự do thực hành đức tin của họ, mặc dù có thể có những thách thức xã hội.

Ví dụ, những người chuyển đổi từ đạo Hồi sang một tôn giáo khác cũng có thể bị tẩy chay bởi đồng nghiệp hoặc gia đình của họ tùy thuộc vào môi trường xã hội. Các trường học trên khắp Thổ Nhĩ Kỳ có thể bao gồm những ý tưởng cơ bản xung quanh các tôn giáo khác, nhưng chủ yếu dạy thần học và thực hành của Hồi giáo Hanafi Sunni.

Bạn có biết, Thổ Nhĩ Kỳ là đất nước nằm trong: những nước có nhiều du khách nhất.

Hồi giáo ở Thổ Nhĩ Kỳ

Thổ Nhĩ Kỳ có một lịch sử Hồi giáo sâu sắc. Vùng đất được quản lý như một Nhà nước Hồi giáo Sunni dưới Đế chế Ottoman. Kiến trúc Hồi giáo ấn tượng và các di tích trên khắp đất nước là những lời nhắc nhở hữu hình về lịch sử này. Mặc dù không phải tất cả người Hồi giáo đều thực hành tôn giáo của họ một cách nghiêm ngặt, nhưng có một mức độ tín ngưỡng mạnh mẽ trên khắp Thổ Nhĩ Kỳ. Sự tôn sùng của đạo Hồi thể hiện rất rõ trong cuộc sống hàng ngày.

Ví dụ, người ta thường nghe thấy câu nói “Maşallah” (Ca ngợi Chúa) vào cuộc trò chuyện bình thường và lời kêu gọi cầu nguyện được vang lên từ các nhà thờ Hồi giáo khắp các thành phố 5 lần một ngày. Những khuôn mẫu xã hội truyền thống này củng cố sự hiện diện và tầm quan trọng của Hồi giáo trong xã hội Thổ Nhĩ Kỳ.

Trong số những người Thổ Nhĩ Kỳ theo Hồi giáo, khoảng 80% thuộc nhánh Sunni (chủ yếu theo trường phái luật học Hồi giáo Hanafi). Trong khi đó, ít nhất 20% theo một hình thức Hồi giáo Shi’a – chủ yếu là tín ngưỡng Alevi.

Chủ nghĩa thế tục và Chính trị

Thổ Nhĩ Kỳ theo chủ nghĩa thế tục sau khi caliphate bị bãi bỏ. Vào những năm 1920, Mustafa Kemal Atatürk đã loại bỏ Hồi giáo là tôn giáo chính thức của đất nước và hạn chế các dấu hiệu liên kết tôn giáo có thể nhìn thấy được. Atatürk tin rằng ảnh hưởng chính trị của tôn giáo và truyền thống Hồi giáo là bất lợi cho nền dân chủ và hiện đại hóa.

Mượn ý tưởng từ ý tưởng chủ nghĩa xã hội của Pháp, ông đã thẳng thắn kiểm soát các thể chế Hồi giáo chính thức và hạn chế quyền lực chính trị của chúng. Những lý tưởng này đã phát triển một sự phản đối mạnh mẽ đối với ‘chủ nghĩa Hồi giáo chính thống’.

Thái độ quốc gia chung khẳng định rằng ‘Hồi giáo là một tôn giáo không phải là một lối sống’ và đức tin của một người không nên can thiệp vào các lĩnh vực công cộng / dân sự. Trong vài trường hợp, lý tưởng thế tục dẫn đến việc biểu đạt tôn giáo bị hạn chế về mặt hợp pháp và hiến pháp.

Ví dụ, phụ nữ đội khăn trùm đầu truyền thống của Hồi giáo (hijab) đã bị cấm tham gia vào các cơ sở công cộng của Thổ Nhĩ Kỳ cho đến năm 2013.

Những hạn chế đối với sự sùng đạo công khai của người Thổ Nhĩ Kỳ đã được tranh luận sôi nổi trong những năm gần đây. Đạo đức chủ nghĩa thế tục đã bị thách thức vì Thổ Nhĩ Kỳ đã được điều hành bởi một đảng có chính trị Hồi giáo trong gần 2 thập kỷ. Chính phủ của Recep Tayyip Erdoğan đã thúc đẩy đạo đức tôn giáo bảo thủ hơn thông qua nhiều chính sách của mình.

Những thay đổi trong hệ thống giáo dục của Thổ Nhĩ Kỳ đã đưa ra hướng dẫn tôn giáo bắt buộc và thay đổi việc quản lý các trường học và trường đại học theo những cách làm suy yếu bản chất thế tục của giáo dục. Việc bán và quảng cáo rượu đã bị hạn chế và quần áo giản dị (ví dụ như đeo khăn trùm đầu) được quảng bá công khai hơn.

Ngày càng có nhiều sự chia rẽ giữa những người tin tưởng mạnh mẽ vào nhà nước thế tục và những người Hồi giáo bảo thủ hơn. Một số nhà phê bình cho rằng các tổ chức công của Thổ Nhĩ Kỳ, từng thế tục, đang chuyển sang ủng hộ những người theo đạo Hồi.

Chủ nghĩa Sufism

Thổ Nhĩ Kỳ là tổ chức của một cộng đồng Sufi lớn. Thuyết Sufism là một hình thức của thuyết thần bí Hồi giáo nhấn mạnh vào nội tâm và sự gần gũi tâm linh với Chúa. Nó không phải là giáo phái của Hồi giáo, nhưng là một phong trào thờ phượng bên trong Hồi giáo. Do đó, tư cách thành viên trong một trật tự Sufi hoặc hội anh em có thể trùng lặp với bản sắc Sunni hoặc Shia của người Hồi giáo. Có nhiều cộng đồng dựa trên truyền thống Sufi ở Thổ Nhĩ Kỳ.

Chủ nghĩa Sufism nhấn mạnh khả năng đạt được hiểu biết về Đức Chúa Trời thông qua sự thờ phượng và các thực hành khác. Họ tập trung vào các hình thức thiền nghi lễ khác nhau, chẳng hạn như tụng kinh (dhikr). Các Sufi Dervishes của Dòng Mevlevi thực hành một hình thức thiền tích cực, nơi họ quay vòng tròn tại chỗ trong một buổi lễ thờ cúng (sema).

Trật tự Thổ Nhĩ Kỳ này đã trở nên rất nổi tiếng trên khắp thế giới, với rất nhiều người tụ tập để xem trận xoáy Sufi (semaze n).

Alevis

Người Alevis là thiểu số tôn giáo lớn nhất ở Thổ Nhĩ Kỳ. Trong khi quy mô dân số của họ là một vấn đề tranh luận, thống kê gần đây ước tính họ vào khoảng 20 đến 25 triệu người. Alevis về mặt kỹ thuật là một phần của giáo phái Shi’a, mặc dù họ có cách giải thích Hồi giáo khác với các cộng đồng Shi’a ở các quốc gia khác. Truyền thống tôn giáo của họ kết hợp Hồi giáo với các yếu tố của văn hóa Thổ Nhĩ Kỳ.

Thực hành tôn giáo của họ cũng khác với đa số người Sunni ở Thổ Nhĩ Kỳ.

Ví dụ, Alevis không nhịn ăn trong tháng Ramadan nhưng làm như vậy trong 10 ngày của Muharram (tưởng niệm cái chết của một Imam Shi’ite). Họ cũng không cúi đầu khi cầu nguyện theo cách giống như người Sunni. Giáo lý Alevi nhấn mạnh và có giá trị vào sự trợ giúp có đi có lại mà không cần thực hành bố thí chính thức. Họ cũng tụ tập tại một loại hình thờ cúng khác, được gọi là ‘cemevis‘, thay vì các nhà thờ Hồi giáo.

Dân số Alevi của Thổ Nhĩ Kỳ có thể được chia thành 4 loại trên cơ sở các nhóm ngôn ngữ: người Azerbaijan nói tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, người nói tiếng Ả Rập, người nói tiếng Thổ Nhĩ Kỳ và người nói tiếng Kurd. Mỗi nhóm trong số những nhóm này phản ánh một bản sắc tôn giáo và văn hóa cụ thể trong tín ngưỡng Alevi. Những người nói tiếng Thổ Nhĩ Kỳ và người Kurd tạo thành các nhóm Alevi lớn nhất.

Tìm hiểu thêm: Những tôn giáo lớn nhất thế giới.