Lịch Sử Khu Đô Thị Công Ty Ở Mỹ (Company Towns)

0
1040
Lịch Sử Khu Đô Thị Công Ty Ở Mỹ
Lịch Sử Khu Đô Thị Công Ty Ở Mỹ

Khu đô thị công ty ở Mỹ có lịch sử lâu đời và cũng có rất nhiều tranh cãi. Nó là hình mẫu và ở Việt Nam cũng có những đô thị công ty mà bạn không nhận ra. Đôi khi nó là khu công nghiệp FDI, nhưng cũng mang đặc tính khác nhau. Hãy cùng mình, xem chi tiết về các nhận định, lịch sử, sự hình thành các khu đô thị công ty ở Mỹ.

Khu đô thị công ty (Company Towns) là nơi trên thực tế tất cả các cửa hàng và nhà ở đều thuộc sở hữu của một công ty cũng là chủ nhân chính. Các thị trấn của công ty thường được quy hoạch với một loạt các tiện nghi như cửa hàng, nhà thờ cúng, trường học, chợ và các cơ sở giải trí.

Amazon đã công bố nhiều đợt tuyển dụng khổng lồ khác nhau. Hay ở Việt Nam, Sam Sung, Intel cũng từng tuyển dụng lượng lớn người lao động. Cùng với sự phát triển của các trung tâm phân phối, các công ty đã được so sánh với “khu đô thị công ty”. Bloomberg từng tuyên bố rằng mô hình này sẽ nâng cao tầng lớp lao động, ít nhất là mặt đời sống. 

Với các cuộc thảo luận xung quanh sự bất bình đẳng về tiền lương đang thống trị tin tức ở Mỹ hiện nay, đây là chủ đề thú vị bàn về cách giải quyết riêng của các siêu công ty. Liệu những cái gọi là nhà máy hoặc khu đô thị công ty này có thực sự tăng lương và cơ hội việc làm hay chỉ là một trò hề?

Hoạt động của các thị trấn công ty có từ cuối những năm 1800. Vì vậy, để biết rõ ý tưởng “cách mạng” này có thể thành công như thế nào, hãy cùng nhìn lại lịch sử.

Tại sao khu đô thị công ty được thành lập?

Nhu cầu về các tổ chức này lần đầu tiên xuất hiện vào những năm 1890 giữa các ngành xây dựng đường sắt và các ngành công nghiệp khai thác, chẳng hạn như khai thác than và gỗ. Những ngành công nghiệp này được đặt tách biệt với các thị trấn đã thành lập, làm cho các khu đô thị công ty trở thành một giải pháp hợp lý cho khoảng cách địa lý.

Ở một số khu đô thị công ty không chính thức, hầu hết cư dân đều làm việc cho một công ty cụ thể. Trong những trường hợp khác, một công ty sẽ sở hữu tất cả các doanh nghiệp trong một khku đô thị và nhà ở của công nhân cùng gia đình của họ.

Các động cơ đằng sau những công ty độc quyền này rất khác nhau. Đối với một số công ty, họ dựng lên các khu đô thị một cách lý tưởng với hy vọng rằng chúng sẽ trở thành nơi đáng sống của người lao động. Khu đô thị được cung cấp trường học, thư viện, nhà thờ, và những thứ tương tự để khuyến khích lối sống lành mạnh trong cộng đồng. Do đó sẽ thúc đẩy những người lao động có năng suất cao hơn. Trong khi đó, những thứ được coi là có ảnh hưởng tiêu cực, chẳng hạn như quán bar sẽ bị nghiêm cấm.

Mặt khác, một số khu đô thị công ty được thành lập với những mục đích bất chính hơn. Bởi vì các khu đô thị của công ty vốn đã bị cô lập với các thành phố và địa phương khác, điều đó có nghĩa là người lao động không thể dễ dàng tìm kiếm các cơ hội việc làm khác, những công việc có thể trả lương cao hơn hoặc cung cấp các điều kiện an toàn hơn. Cư dân cũng không thể tiêu tiền của họ vào các cơ sở kinh doanh khác, và thay vào đó, họ đổ ngay thu nhập họ kiếm được vào túi của công ty sở hữu khu đô thị.

Tại sao những khu đô thị công ty này lại có vấn đề?

Ngay cả trong trường hợp các công ty có thể coi trọng lợi ích tốt nhất của người lao động, các khu đô thị của công ty cuối cùng cũng dẫn đến việc thiếu tự do cá nhân. Nếu các nhà thờ được chọn cho cư dân theo ý thích của công ty, điều đó có nghĩa là các giáo phái khác sẽ bị bỏ lại. Các lựa chọn – dù xấu hay tốt – đều được đưa ra khỏi tay cư dân. Chương trình giải trí do các công ty sắp đặt và bất cứ điều gì được người công ty coi là vô đạo đức không còn là một lựa chọn.

Trong trường hợp của những khu đô thị kém thiện chí, vấn đề chỉ trở nên tồi tệ hơn. Ở một số địa điểm, các công ty sẽ đưa ra phần thưởng hoặc bồi thường bằng các sản phẩm, dịch vụ sử dụng ở các cửa hàng thuộc sở hữu công ty. Vì không có đối thủ cạnh tranh cho các cửa hàng, tòa nhà và dịch vụ độc quyền này, nên giá cả hoàn toàn do chủ sở hữu quyết định. Chi phí nhà ở, cửa hàng tạp hóa và các nhu yếu phẩm khác sau đó trở nên đắt đỏ.

Vì công ty sở hữu khu đô thị biết rằng tất cả cư dân đều có công việc ổn định và đáng tin cậy, một số người được cung cấp mức tín dụng dễ dàng hơn. Tất nhiên, điều này có nghĩa là người lao động nhanh chóng gánh những khoản nợ lớn – những khoản nợ mà họ có nghĩa vụ phải giải quyết trước khi họ nghĩ đến việc rời khỏi khu đô thị.

Các ngôi nhà được xây dựng gần nhau nhất có thể, để tạo điều kiện cho số lượng công nhân lớn nhất cư trú ở đó. Bên cạnh việc thiếu sự riêng tư và được xây dựng lụp xụp, nếu sự cố như hỏa hoạn xảy ra sẽ là thảm họa.

Nhưng khu đô thị này cũng khá biệt lập, vì vậy đôi khi khá tù túng. Những người lao động tốt và xấu ở chung cũng dễ dàng gây nên các tệ nạn.

Công nhân đình công

Trong trường hợp tốt nhất cho các khu đô thị công ty, sự phát triển của một khu vực sẽ dẫn đến việc khu đô thị phát triển một cách tự nhiên khi hệ thống giao thông và cơ sở hạ tầng được cải thiện. Tuy nhiên, việc có một khu đô thị hoàn toàn phụ thuộc vào sự thành công của một công ty có thể gây ra rắc rối nếu tình hình tài chính không ổn định. Nếu công ty kiểm soát một khu đô thị bị phá sản, điều đó có nghĩa là toàn bộ nền kinh tế của khu đô thị sẽ sụp đổ.

Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu nền kinh tế của một khu đô thị đang phát triển mạnh? Các khu đô thị công ty thành công về mặt tài chính vẫn có thể gặp thất bại do vấp phải các vấn đề chính trị. Thị trấn này có xu hướng thiếu người lãnh đạo được bầu. Sự phẫn nộ dễ lan tràn trong giới công nhân, những người không có quyền tự quyết đối với cuộc sống của họ. Không có gì ngạc nhiên khi điều này đôi khi dẫn đến các cuộc đình công của công nhân.

Một cuộc đình công đặc biệt đáng chú ý đã xảy ra ở Pullman, ngay bên ngoài Chicago. Đây là một thị trấn công ty được tài trợ bởi George M. Pullman, một nhà sản xuất toa xe lửa hạng sang và giường ngủ. Năm 1893, chi phí thuê và hàng hóa ở Pullman vẫn giữ nguyên ngay cả khi công nhân bị cắt giảm 25% lương. Kết quả là cuộc đình công bắt đầu vào mùa xuân ở Pullman nhưng nhanh chóng lan rộng ra toàn quốc, bao gồm hơn 150.000 người tham gia trên 27 tiểu bang và vùng lãnh thổ.

Chính phủ liên bang đã can thiệp, với quân đội do Tổng thống Grover Cleveland cử đến để dập tắt các nỗ lực phá hoại. Tuy nhiên, thị trấn Pullman không bao giờ trở lại như cũ sau cuộc bất ổn tháng 5 năm 1894. Một ủy ban quốc gia được thành lập để điều tra nguyên nhân của cuộc đình công, và tiểu bang ra lệnh cho công ty Pullman bán bớt cổ phần trong khu dân cư của mình.

Đáng ngạc nhiên, phản ứng dữ dội vang dội này không dẫn đến sự từ chối rộng rãi của các khu đô thị công ty. Pullman được xem như một ngoại lệ đối với quy tắc, một ví dụ thất bại về một ý tưởng khác. Trong ba thập kỷ tiếp theo, chủ nghĩa gia đình đã được loại bỏ khỏi mô hình khu đô thị công ty để có một cái nhìn chuyên nghiệp hơn, trong đó các chuyên gia bên ngoài được tham khảo ý kiến ​​và tập đoàn không quá nặng tay với việc đạo đức hóa của mình.

Sự suy giảm tự nhiên của các khu đô thị công ty

Sau Thế chiến thứ nhất, nền kinh tế Mỹ đã phát triển đủ lớn và thịnh vượng đến mức các khu đô thị công ty không còn mang lại lợi thế khác biệt nữa. Bất bình đẳng thu nhập và mức sống thấp vẫn thường gây khó khăn cho các công nhân nhà máy. Tuy nhiên, đã có những cải tiến.

Việc mua trả góp giờ đây đã khả thi đối với những người lao động có mức lương thấp, mở ra cơ hội mua hàng hóa như ô tô và tivi cho họ. Quan trọng nhất, cơ sở hạ tầng và dịch vụ quốc gia mạnh hơn đồng nghĩa với việc người lao động không còn phải trông chờ vào các công ty chăm sóc sức khỏe và giáo dục.

Khi sự phổ biến của ô tô lan rộng trên khắp nước Mỹ, người lao động không còn phải đối mặt với vấn đề cô lập của phương tiện giao thông kém. Họ có thể sống ở bất cứ đâu và đi làm tương đối dễ dàng. Họ cũng dễ dàng giải trí qua hệ thống radio, tivi và ngày nay là internet.

Thế giới xung quanh các khu đô thị công ty đang hiện đại hóa, và với sự bùng nổ này, niềm tin rằng mọi người cần được hướng dẫn nghiêm ngặt về mặt đạo đức phần lớn đã biến mất. Sau đó, cuộc Đại suy thoái bắt đầu vào năm 1929, và các công ty không còn tiền để chi trả cho các chương trình phúc lợi nặng nhọc.

Chính Thỏa thuận mới của Roosevelt là cái đinh cuối cùng trong quan tài cho các thị trấn của công ty. Mức lương tối thiểu đã được tăng lên trên khắp đất nước, và các công ty từng dựa vào việc trả lương thấp cho công nhân của họ cuối cùng đã thất bại. Người lao động không còn cần phải phụ thuộc vào các công ty để có nhà ở, vì chế độ sở hữu nhà hiện nay có hệ thống tiền gửi thấp hơn, lãi suất thấp hơn.

Tương lai của các thị trấn công ty

Ngày nay, bạn sẽ khó tìm được một thị trấn công ty chính thức ở Hoa Kỳ. Nhưng điều đó không có nghĩa là không có các thị trấn công ty không chính thức hoạt động. Một số công ty có ảnh hưởng lớn đến một khu vực chọn điều hành cộng đồng theo kiểu không hợp nhất, trong đó các quan chức do công ty bổ nhiệm có nhiều quyền lực hơn các quan chức được bầu chọn.

Ví dụ, Bay Lake và Lake Buena Vista ở Florida do Công ty Walt Disney kiểm soát. Elon Musk đã công bố kế hoạch kết hợp Boca Chica của Texas và về cơ bản biến nó thành một khu đô thị công ty để sản xuất và phóng chương trình tên lửa SpaceX của mình.

Với rất nhiều mặt trái của các khu đô thị công ty, ai có thể hưởng lợi từ chúng trong môi trường kinh tế, xã hội và chính trị ngày nay? Có thể là người vô gia cư. Với cơ sở hạ tầng và chính sách chống người vô gia cư được ban hành trên khắp Hoa Kỳ, tính dễ bị tổn thương của những người sống trên đường phố – đặc biệt là trong đại dịch – chỉ ngày càng gia tăng. 

Tuy nhiên, bản thân Disney gần đây đã bị chỉ trích vì tình trạng vô gia cư tràn lan và tình trạng mất an toàn vệ sinh thực phẩm trong công nhân do lương thấp.

Kết hợp các yếu tố lịch sử về lợi thế và bất lợi của các khu đô thị công ty ở Mỹ, bạn sẽ có cái nhìn như thế nào về các khu độ thị (thị trấn) công ty ở Việt Nam?

Xem thêm những câu chuyện bí ẩn thú vị: Bí mật của Hố Tiền đảo Oak.